Qua ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông hương thực đã sống trong lòng bạn đọc. Toát lên được nét cá tính và vẻ đẹp kì bí, hùng vĩ làm sao. Cảm ơn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã góp lên một vẻ đẹp nữa của quê hương ,khiến ta càng thêm tự hào về đất nước mình. NGỮ VĂN 12: kiến thức, tài liệu, bài học, soạn văn và những bài văn hay lớp 12: Ai đã đặt tên cho dòng sông của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. - Đối với âm nhạc: Hoàng Phủ Ngọc Tường gọi sông Hương là "người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya". Ai đã đến Huế đều được nghe nhạc Huế. Nghe nhạc Huế phải nghe trên sông Hương vào lúc đêm khuya mới cảm nhận được linh hồn của nó. Tuyển tập các đề văn về Ai đã đặt tên cho dòng sông cùng các câu hỏi chuyên đề Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường được Trường TCSP Mẫu giáo - Nhà trẻ Hà Nội tổng hợp dưới đây, nhằm giúp các em học sinh hiểu thêm về tác phẩm cũng như tiếp cận được nhiều dạng câu hỏi, đề Còn sông Hương là nơi đã gắn bó với Hoàng Phủ Ngọc Tường vậy nên ông rất am hiểu và có một tình cảm tha thiết với nó. Bút kí " Ai đã đặt tên cho dòng sông" vì thế trở mà nên chân thực,dạt dào cảm xúc hơn bao giờ hết. Hai dòng sông được viết lên bởi hai nghệ sĩ tài hoa mang cùng vẻ đẹp trữ tình nhưng mỗi dòng sông lại hiện lên rất riêng và độc đáo. . Phân tích vẻ đẹp của sông Hương qua ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông”. Mở bài Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học kháng chiến. Ông trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông có thế mạnh viết tùy bút. Những tác phẩm của ông ghi nhận đặc sắc vẻ đẹp của non sông đất nước. Đồng thời cũng bộc lộ tình yêu nước thiết tha, đằm thắm. “Ai đã đặt tên cho dòng sông” là bài bút kí xuất sắc của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tác phẩm viết về dòng sông trữ tĩnh, thơ mộng của xứ Huế. Mạch cảm xúc của bài kí chính là vẻ đẹp đặc trưng, riêng biệt của con sông duy nhất chảy qua dòng thành phố Huế. Dấu ấn của tác giả để lại trong bài bút kí này đó là cách nhìn độc đáo mang tính phát hiện của Hoàng Phủ Ngọc Tường về vẻ đẹp của dòng sông Hương. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã rất tài tình khi lột tả được hết vẻ đẹp và linh hồn của dòng sông mang đặc trưng của Huế này. Thân bài Cảm hứng chủ đạo của bài lí là vẻ đẹp của dòng sông Hương thơ mộng của xứ Huế. Dòng sông quê hương được soi chiếu từ nhiều góc độ của lịch sử, địa lý, văn hóa… Qua những suy tư và liên tưởng, dòng sông đã trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp của đất cố đô với trang sử vẻ vang, với cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, trở thành biểu tượng cho văn hóa và tâm hồn con người xứ Huế. Bài tùy bút mang đậm phong cách tùy bút bởi giọng văn phóng túng và sự bộc lộ cái “tôi” suy tư, trữ tình của nhà văn. Hình tượng con sông Hương được nhà văn khám phá từ nhiều điểm nhìn và nhiều góc độ khác nhau. Đó là một vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của thiên nhiên. Trước hết là vẻ đẹp của sông Hương được phát hiện ở cảnh sắc thiên nhiên. Nhà văn phát hiện sông Hương có vẻ đẹp thiên tạo, có sức sống mãnh liệt, phóng khoáng, hoang dại và đầy cá tính. Tác giả phát hiện ra cái thế chảy cuộn xoáy của dòng nước sông Hương khi ở thượng nguồn mạnh mẽ, phóng khoáng và man dại như một cô gái Di-gan. Nó “rầm rộ” và “mãnh liệt” vô cùng. Nó giống như một bản trường ca của rừng già khi nó đi qua giữa lòng Trường Sơn. Sông Hương tô điểm cho vẻ đẹp Trường Sơn vốn đã rất kì vĩ thêm lớn lao hơn. Sông Hương mềm mại đem đến sự dễ chịu trong bức tranh núi non trùng điệp. Nó xoa dịu những khổ ngọc của núi rừng khắc nghiệt. Mỗi khi ta từ núi cao xuống thấp, sông Hương mang đến một vẻ dễ chịu êm ái. Sông Hương có vẻ đẹp “dịu dàng và trí tuệ” đi qua đất Huế. Nó trở thành “người mẹ phù sa” của một vùng văn hóa đất đế đô. Người mẹ ấy hiền hòa và bao dung ôm lấy vừng đất thanh bình. Từ bao đời nay, sông Hương mang đến cho con người sự tr phú, thịnh vượng. Đôi khi, nó trầm tư như đang nghĩ ngợi về một điều gì đó xa xăm khó hiểu. Sông Hương lại có vẻ đẹp biến ảo như phản quan nhiều màu sắc của nền trời Tây Nam thành phố. Sớm xanh, trưa vàng, chiều tím. Mỗi thời khắc một sắc màu, huyền ảo vô cùng. Sông Hương có vẻ đẹp “trầm mặc” khi lặng lẽ chảy dưới rừng thông u tịch. Với những lăng mộ âm u và kiêu hãnh của các vua chúa triều Nguyễn nó có vẻ đẹp mang màu sắc triết lí cổ thi. Hay khi đi trong âm hưởng ngân nga của tiếng chuông chùa Thiên Mụ. Sông Hương có vẻ đẹp “vui tươi” khi đi qua những bãi bờ xanh biết của vùng ngoại ô Kim Long. Có vẻ đẹp “mơ màng trong sương khói” khi nó rời xa thành phố để đi qua những nương dâu, lũy trúc và những thảm cau thôn Vĩ Dạ. Sông Hương quả thực là một kiệt tác của thiên nhiên hoang dại và trữ tình. Dòng sông chảy qua nhiều vùng thiên nhiên của đất nước. Con sông được nhà văn nhìn nhận trong mối quan hệ mật thiết gắn bó với cảnh sắc thiên nhiên hai bên bờ sông. Khác với cách nhìn nhận miêu tả của Nguyễn Tuân đối với con sông Đà. Sông Hương đẹp lộng lẫy khi đi vào văn hóa nghệ thuật. Sông Hương gắn liền với âm nhạc. Mà đặc biệt là nhã nhạc Cung đình Huế. Sông Hương còn gắn liền với thơ ca. Hình ảnh con sông đã đi vào thơ của của thi nhân bao đời nay. Từ Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Bà huyện Thanh Quan, Tản Đà cho đến nhà thơ Tố Hữu. Mỗi nhà thơ có cách cảm nhận riêng mà nhờ con sông Hương hiện lên với nhiều hình ảnh thật lạ, thật đẹp. Với một tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, một vốn văn hóa phong phú về Huế, một tình cảm vô cùng thiết tha gắn bó với Huế, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã huy động triệt để mọi tiềm năng văn hóa cùng với ngôn từ giàu có của mình để phát hiện, diễn tả vẻ đẹp và chất thơ của Huế, được thể hiện tập trung dòng sông Hương như một biểu tượng của Huế. Vẻ đẹp của sông Hương cũng được tác giả nhìn nhận trong mối tương quan của nó với những vùng đất. Đi qua mỗi vùng đất, nó lại có một nét đắc trưng riêng. Cũng chính vì vậy mà vẻ đẹp của con sông Hương hiện lên thật đa dạng và phong phú. Tác giả gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển Huế, với không gian nhã nhạc cung đình – một di sản văn hóa thế giới được Unessco công nhận. Nhà văn phát hiện sông Hương là dòng sông văn hoá và thi ca. Sông Hương cũng là đối tượng thẩm mĩ, là nguồn cảm hứng của thi nhân bao đời nay. Do vậy, còn có cả một dòng thi ca về sông Hương. Sông Hương gắn bó trong cái nôi của nền âm nhạc, thi ca dân gian, cổ điển Huế. Sông Hương lung linh trong cái nhìn tinh tế của Tản Đà, sông Hương là “dòng sông trắng, lá cây xanh”. Trong cái hùng tâm tráng chí của Cao Bá Quát, dòng sông như “kiếm dựng trời xanh”. Trong nỗi “quan hoài vạn cổ” của Bà huyện Thanh Quan, Hương Giang luôn in “Trời chiều bản làng bóng hoàng hôn”. Trong cái nhìn lạc quan, “cái nhìn phục sinh” của Tố Hữu thì “Sông Hương quả thật là kiều, rất kiều”. Tác giả đặt mình trong tư thế và tâm thế văn hoá của một con người để chiêm ngưỡng vẻ đẹp sông Hương, nên đã phát hiện ra trong chiều sâu linh hồn của sông Hương chứa đựng bản sắc rất đặc trưng và thật phong phú của một nền văn hoá. Sông Hương được tác giả nhìn nhận từ góc độ lịch sử. Nó là hiện thân, là bộ mặt, là linh hồn của xứ Huế. Sông Hương gắn liền với lịch sử của đất cố đô. Từ thuở xa xưa, nó là dòng sông biên thùy với nước Đại Việt. Trong sách “Dư địa chí”, Nguyễn Trãi, là dòng sông thiêng với cái tên Linh Giang cổ kính. Sông Hương cũng từng soi bóng kinh thành Phú Xuân của Nguyễn Huệ. Nó từng chứng kiến những ngày xôi nổi Cách mạng thánh Tám năm 1945. Rồi đến cả chiến dịch Mậu Thân 1968. Nhà văn nhìn sông Hương trong góc nhìn đời thường sau những biên cố lịch sử thăng trầm nhưng hết sức oai hùng của dân tộc, sông Hương trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước. Soi bóng tâm hồn với tình yêu say đắm, lắng sâu niềm tự hào tha thiết quê hương xứ sở vào đối tượng miêu tả khiến đối tượng trở nên lung linh, huyền ảo, đa dạng như đời sống, như tâm hồn con người. Tác phẩm khẳng định sức liên tưởng kì diệu, sự hiểu biết phong phú về kiến thức địa lý, lịch sử, văn hoá nghệ thuật và những trải nghiệm của bản thân nhà văn. Đoạn trích bài bút ký mang đậm phong cách của thể tùy bút vì chất tự do phong túng và hình tượng cái “tôi” tài hoa, uyên bác của Hoàng Phủ Ngọc Tường, một hồn thơ thực sự trong văn xuôi với trí tưởng tượng lãng mạn và những xúc cảm sâu lắng. – Từ tình yêu say đắm với dòng sông quê hương, từ những hiểu biết phong phú về văn hóa, lịch sử, địa lý, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm hiện lên những vẻ đẹp khác nhau của sông Hương trong một văn phong tao nhã, hướng nội, qua đó người đọc nhận ra tình yêu và sự gắn bó tha thiết của một trí thức yêu nước với cảnh sắc quê hương và lịch sử dân tộc. Có lẽ đối với Hoàng Phủ Ngọc tường nói riêng, với nhân dân Huế nói chung thì sông Hương chính là biểu tượng đẹp đẽ của xứ Huế suốt mấy nghìn năm lịch ngòi bút tinh tế, cảm xúc chân thành và tấm lòng yêu thương sâu sắc, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã vẽ nên một bức tranh tuyệt đẹp về sông Hương – một vẻ đẹp rất riêng, rất dịu dàng, rất Huế. Ngôn ngữ trong sáng, phong phú, uyển chuyển, giàu hình ảnh, giàu chất thơ, sử dụng nhiều phép tu tư như so sánh, nhân hoá, ẩn dụ,… Bài kí có sự kết hợp hài hoà cảm xúc, trí tuệ, chủ quan và khách quan. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng vẽ con sông Hương bằng ngôn ngữ nghệ thuật một cách tài tình. Sông Hương “vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đội ngột vẻ một đường cong thật tròn…”. Trong tác phẩm, nhà văn cũng sử dụng nhiều từ láy tạo hình đặc sắc. Một vài từ xuất hiện với tần số cao như lặng lờ, lững lờ, bồng bềnh, ngập ngừng, lô xô, sừng sửng, lập lòe,… Và những so sánh táo bạo, gợi cảm như “dòng sông như thành quách”, “mềm như tấm lụa”, “những chiếc thuyền ngược xuôi chỉ bé vừa bằng con thoi”, rồi “nhỏ nhắn như những vầng trăng non”,… Qua cách nhìn rất độc đáo ấy, tác giả cho thấy nét tài hoa của một ngòi bút ở thể bút kí; nét độc đáo trong ý tưởng phát hiện về phẩm chất của một dòng sông và hệ thống hình ảnh giàu sức gợi, tác giả đã tạo nên những xúc cảm sâu lắng trong tâm hồn người đọc. Kết bài Bài kí ngợi ca vẻ đẹp của dòng sông Hương và rộng hơn là vùng đất cố đô Huế đẹp thơ mộng hữu tình, ca ngợi lịch sử vẻ vang của Huế, ca ngợi văn hóa và tâm hồn người Huế. Tác giả coi sông Hương là biểu tượng cho tất cả những gì là vẻ đẹp của cảnh và người đất đế đô này. Bài kí chứng tỏ sự gắn bó máu thịt, tình yêu thiết tha với Huế và một vốn hiểu biết sâu sắc về nền văn hóa đất cố đô của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường. Làm rõ ngòi bút tài hoa, uyên bác của Hoàng Phủ Ngọc Tường qua bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? Đọng lại trong nghiệp văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường là thể ký. Không chỉ về số lượng trong 16 tác phẩm chính đã xuất bản, thể ký chiếm 14 ấn phẩm, 2 ấn phẩm còn lại là thơ, mà ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường rất đẹp – đẹp về nội dung và đẹp cả về hình thức biểu đang xem Sông hương hoàng phủ ngọc tườngNếu Nguyễn Tuân “viết tùy bút như một công trình khoa học” theo Phan Ngọc, thì ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường là những thi phẩm văn xuôi với nhiều cung bậc của cảm xúc và lý trí hoà quyện. Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường, văn chương của mỗi người có phong cách riêng, đã góp phần quan trọng khẳng định ký là một thể loại đặc sắc trong nền văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt có ý nghĩa trong tiến trình làm giàu và làm đẹp tiếng văn Hoàng Phủ Ngọc TườngHoàng Phủ Ngọc Tường “đã chọn bút ký là thể loại văn xuôi tiêu biểu… là duy nhất và không thể thay thế được”, như ông tâm sự về nghề văn. Đó là một lựa chọn có nền tảng – nền tảng của học vấn, của chiêm nghiệm và hơn nữa là nền tảng của tâm Phủ Ngọc Tường sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937, tại thành phố Huế, nhưng quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Sau khi học hết bậc trung học ở Huế, năm 1960 ông tốt nghiệp khóa I ban Việt Hán, Đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1964, Hoàng Phủ Ngọc Tường nhận bằng Cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. Từ năm 1960 đến năm 1966 ông dạy học tại trường Trung học phổ thông chuyên Quốc Học Huế. Từ năm 1966 đến 1975, Hoàng Phủ Ngọc Tường thoát ly gia đình lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ bằng hoạt động văn nghệ – đây có thể coi là thời điểm tạo bước ngoặt để ông dấn thân cho văn động văn nghệ trong kháng chiến chống Mỹ là thời gian Hoàng Phủ Ngọc Tường có điều kiện thâm nhập thực tế nhiều địa phương, tiếp xúc nhiều hoàn cảnh, nhiều nhân vật. Thực tế đã cung cấp cho ông những góc nhìn mới, cách cảm mới, làm chất xúc tác cho sự chiêm nghiệm trong ông ngày thêm dày dặn, thêm sâu sắc, cả về tri thức lẫn cảm xúc, để từ đó kết tinh thành những tác phẩm ký chứa đựng sự thăng hoa trong bút pháp của người nghệ sỹ ngôn ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn cho tôi cảm giác thú vị, lần đọc sau cảm giác thú vị lại đậm đà hơn, “cá biệt” hơn. Thực tại trong ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường không dừng lại ở sự mô tả mà loang ra, trộn vào quá khứ gần quá khứ xa, để rồi trồi lên khát tính triết học trong ông không miệt mài lý giải mà nhường chỗ cho trực giác dịch biến để thức nhận cái hoàn mỹ của các hiện tượng và sự vật trong sự giàng buộc lẫn viết văn không thể thiếu ký ức, bởi ký ức là nguồn cảm hứng đặc biệt. Ký ức không phải là quá khứ, cũng không phải là kinh nghiệm, mà là quá trình tích luỹ và rèn luyện xúc cảm trước những cái nhìn thấy và cả những cái không nhìn thấy, nhào luyện nó và nén nó lại, nuôi dưỡng nó cho tâm hồn luôn ở trạng thái rung động có ý thức, từ tự phát đến tự giác của khả năng nhạy cảm. Do đó,ngẫu nhiên không phải là thuộc tính của ký ức. Ký ức là một nguồn năng lượng,cũng là năng lực, khác nhau ở mỗi nuôi dưỡng và khai thác ký ức trong lao động sáng tạo nghệ thuật không giống nhau ở từng ức luôn luôn vận động và sẵn sàng gia nhập tương lai khi người ta ý thức và chủ động đưa nó vào cuộc sáng tạo. Nói cách khác, ký ức là quá trình tổng hợp nền tảng tri thức bền vững và sức tưởng tượng bay bổng, làm nên tác phẩm mang đặc tính riêng của một tác giả có phong cách độc Phủ Ngọc Tường là một tác giả biết chắt chiu, nuôi dưỡng và sử dụng ký ức hiệu quả. Trong mỗi tác phẩm ký của ông, ký ức thực sự là nhân tố gắn kết vững chắc các yếu tố hình thành nên tác phẩm. Hoàng Phủ Ngọc Tường tâm sự “Những ý niệm hình thành trong tuổi thơ của tôi chiếm một vai trò quan trọng trong vốn liếng văn hoá của đời người … Qua cát bụi đi hoài mỏi chân, ý niệm kia đã đâm chồi nảy lộc trong tâm thức tôi thành nỗi khát khao về Vĩnh Hằng”, từ đó ông khẳng định “văn hoá là báu vật dành cho con người”, và cho rằng “Người ta hoàn toàn có khả năng tái sinh văn hoá thiên nhiên của Bạch Mã bằng cách bố trí lại cơ cấu cây trồng’ như thường nói”. Không dừng lại ở những kỷ niệm, bằng những chiêm nghiệm và kiến văn sâu rộng, Hoàng Phủ Ngọc Tường dựng nên tác phẩm ký Ngọn núi ảo ảnh đẹp như một bức khảm vỏ trai, vỏ ốc hài hoà và tinh xảo, bất kỳ ở góc nhìn nào cũng đều thấy ánh lên độ sáng vừa thực vừa ảo. Những ký ức xa-gần, xen kẽ, của tác giả về Bạch Mã – một dãy núicách Huế 40 km về phía nam và cách Đà Nẵng 60 km về phía bắc, để lại trong lòng người đọc một ký ức dày dặn về một địa danh không phải bất cứ ai cũng có điều kiện chiêm ngưỡng cảnh đẹp hùng vĩ và hiểu biết nhiều về “thân phận” thăng trầm qua những biến cố tự thân cũng như ngoại lực tác động thường xuyên. Trong cái đẹp toàn thể, bật lên cái đẹp khao khát của tác giả ngẫm về cuộc đổi thay “số phận” của Bạch Mã, mà trước hết trông chờ vào chính sự thay đổi ý thức và tư duy của con người đối với thiên nhiên. Cuối tác phẩm Ngọn núi ảo ảnh, Hoàng Phủ Ngọc Tường hạ một nốt trầm ngân nga “Bạch Mã như là một thành phố ảo ảnh trong sa mạc, huy hoàng phút chốc rồi tan biến, chỉ còn lại một bóng núi lau mờ…”. Chính nốt trầm này gõ vào lòng trắc ẩn của người đọc, xua đuổi sự thờ ơ, trỗi dậy niềm hy vọng có đủ căn cứ nhân Phủ Ngọc Tường là người kể chuyện bằng thể ký. Bám sát các sự kiện, các nhân vật một cách chân thực, nhưng không lệ thuộc, ông thổi vào đối tượng điệu hồn mang cốt cách của những thực thể, mà tính cá thể ấy vận động trong tổng thể xác định không thể tách rời. Không để lại dấu vết hư cấu, bút pháp ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng không che khuất nghệ thuật cấu trúc truyện cũng như nghệ thuật nhân cách hoá và ẩn dụ của thơ. Chẳng hạn, như trong“Diễm xưa” của tôi, Kon Lai và Kan Sao là hai nhân vật “đậm đà”, trong khi Kon Lai kỳ lạ như “một cây tùng cổ, đã quên già để sống không cần biết tuổi”, thì Kan Sao là người con gái đẹp có “nụ cười hoa ngâu và đôi mắt nai dịu dàng của Huế”. Và, Hoàng Phủ Ngọc Tường trở thành người con của Huế từ khi nào chẳng nhớ, chỉ biết rằng Huế là nhân vật trữ tình kiều diễm nhất trong đời văn của bó với Huế từ lâu, nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn “bỗng” nhận ra Huế là một thành phố lạ lùng “Mơ mộng, lười biếng như nàng công chúa sầu muộn, để chợtnhiênnổi giận, thách thức như một lời hịch tuyên chiến. Hình như trong mỗi người Huế-ham-chơi vẫn tiềm ẩn một cái tôi thứ hai’ sẵn sàng nhày vào lửa” Hành lang của người và gió….Hai “tính cách” ấy của Huế chịu ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài từ dòng Hương giang, không chỉ ở khúc sông chảy trong lòng chiều dài từ thượng nguồn ra đến cửa biển, sông Hương bồi đắp cho thành phố bề dày với những nét đẹp vừa lộng lẫy vừa phảng phất, níu kéo biết bao tâm hồn thổn thức, để lại cho đời người câu chuyện huyền thoại về cái tên vừa mỏng của “dòng sông trắng – lá cây xanh” Tản Đà vừa sắc lẹm “như kiếm dựng trời xanh” Cao Bá Quát, rằng “vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi” Ai đã đặt tên cho dòng sông. Không dừng lại ở đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường nhập vào dòng chảy của con sông “rất nhạy cảm với ánh sáng, nó thay màu nhiều lần trong một ngày như hoa phù dung và đôi khi màu nước không biết từ đâu mà có, không giống với màu của trời”, để từ đó nhận ra “Cuối Hè, Huế thường có những buổi chiều tím, tím cầu, tím áo, cả ly rượu đang uống trên môi cũng chuyển thành màu tím; và sông Hương trở thành dòng sông tím sẫm hoang đường như trong tranh siêu thực” – màu tím Huế trở thành “dấu hiệu của một nội tâm trong sáng, giàu có nhưng gìn giữ để không bộc lộ nhiều ra bên ngoài, vì thế với người phụ nữ Huế, màu tím ấy vừa là màu áo, vừa là đức hạnh” Sử thi buồn.Một trong những ấn tượng nổi trội ở các tác phẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường làtình yêu thiên nhiên, một tình yêu luôn luôn là bà đỡ để ông cảm thụ và đem lòng yêu từng chi tiết của mỗi mảnh đất cụ thể. Ông viết “Nhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm, tôi chợt phát hiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ”, và “Thật vậy, không nơi nào trên thế giới mà những công trình kiến trúc của con người lại mọc lên giữa cỏ hoang như ở Huế” Miền cỏ thơm. Phải có hiểu biết và chiêm nghiệm sâu sắc mới có thể biểu tả thành cảm xúc như thế. Trong Hoa trái quanh tôi, Hoàng Phủ Ngọc Tường có nhiều đúc kết tinh tế về Huế, rằng “Có lẽ thiên nhiên đã giữ một vai trò nào đó, thực quan trọng, trong sự tổng hợp nên cái mà người ta có thể gọi là bản sắc Huế’. Bởi vì thiên nhiên bao giờ cũng biểu hiện một cách nhất quán giữa cái hằng cửu và cái biến dịch, giữa cái biến động và cái tĩnh tại”. Điều đó phù hợp với bản chất thống nhất và phân hoá trong mối quan hệ hữu cơ giữa con người và thiên nhiên tính đặc thù ở mỗi cảnh quan tự nhiên vị trí địa lý, đất đai, khí hậu… là điều kiện cần thiết để con người xác lập cho xứ sở của mình một cảnh quan văn hoá riêng. Và, ở đoạn văn tiếp sau, Hoàng Phủ Ngọc Tường nhận xét rất nhân bản, rằng “Hình như khi xây dựng nên đô thị của mình, người Huế không bộc lộ cái ham muốn chế ngự thiên nhiên theo cách người Hy Lạp và La Mã, mà chỉ tìm cách tổ chức thiên nhiên trở thành một kẻ có văn hoá để có thể tham dự một cách hài hoà vào cuộc sống của con người, cả bên ngoài và bên trong”. Nhìn rộng ra, cách “tổ chức thiên nhiên trở thành một kẻ có văn hoá” là đặc điểm căn bản của người Việt trong tiến trình xây dựng và khẳng định bản sắc văn hoá trên phạm vi lãnh thổ cư trú của mình qua lịch sử nhiều biến động. Tính cách ấy người Huế thể hiện có phần khu biệt qua quan sát của Hoàng Phủ Ngọc Tường “sẽ là vô ích nếu người ta định tìm kiếm ở Huế những khu vườn cao sản kiểu vựa trái của miền Đông Nam Bộ, và nếu người ta quên không nhìn đến diện mạo văn hoá của cái thế giới thực vật nho nhỏ kia”, bởi “Người Huế lập vườn, trước hết như là nơi cư ngụ của tâm hồn mình giữa thế gian, ước mong sẽ là chút di sản tinh thần để đời cho con cháu”. Khó có ai yêu và thấu hiểu Huế một cách ngọn ngành, căn cơ sánh bằng Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tình yêu ấy thúc giục cái ký ức tổng thể trong ông trỗi dậy, nhẩn nha điểm xuyết tất cả những gì lắng đọng trong tâm hồn ông phát lộ thành ngôn ngữ văn chương, phảng phất mà chắc nịch, hối hả mà trầm tư “Tôi nhận ra ở mỗi con người quanh tôi, trĩu nặng một nỗi lòng thương cây nhớ cội, và nét điềm tĩnh của mảnh đất mà họ đã cày cuốc và gieo hạt”.Con người và thiên nhiên trong ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường quấn quýt và nâng đỡ nhau như hình với bóng. Bằng kiến văn của mình, ông chứng minh trên nền tảng thiên nhiên ấy, trí tuệ và sức vóc con người Huế đã kiến tạo nên một vùng văn hoá Huế, mà thành phố Huế là nhân lõi, chứa đựng nhiều tầng, nhiều lớp đặc trưng của lịch sử hình thành và phát triển, vừa thống nhất với đặc điểm văn hoá dân tộc vừa mang những sắc thái riêng, độc đáo và thi vị. Ký ức của Hoàng Phủ Ngọc Tườngmang đầy đủ các yếu tố địa-sử-văn-triết và qua cách biểu cảm ông đã tạo nên những tác phẩm có chiều sâu văn hoá. Trong tư duy sáng tạo nghệ thuật, Hoàng Phủ Ngọc Tường thực sự coi trọng yếu tố địa lý, xem các thành tố của thiên nhiên là những thực thể, đưa chúng vào cùng vận động với sự chuyển biến của tác phẩm, chứ không chỉ “mượn” thiên nhiên nhằm làm “đẹp” tác phẩm như ở khá nhiều người viết khác. Đặc điểm này góp phần cấu thành nên phong cách ký Hoàng Phủ Ngọc thêm Hệ Số Góc Của Tiếp Tuyến - Tổng Hợp Trắc Nghiệm Dạng Toán Về Tiếp TuyếnKý của Hoàng Phủ Ngọc Tường đẹp từ trong tư duy và vì thế đẹp cả trong cách thể hiện, với sự chặt chẽ của cấu trúc và sự trong sáng của ngôn ngữ. Đọc các tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường, tôi học được nhiều điều bổ ích, bởi ông là người thổi hồn vào thể ký.

hoàng phủ ngọc tường sông hương